Tên khác: Binh lang, Tân lang
Tên khoa học: Areca catechu L., Arecaceae (họ Cau).
Mô tả cây: Cây mọc thẳng cao 15-20 m. Thân cột, hình trụ rỗng, có nhiều vòng đốt là vết tích của lá rụng; gốc thân hơi phình ra. Ở ngọn có một chùm lá to, rộng xẻ lông chim. Lá có bẹ to. Cụm hoa bông mo. Hoa đơn tính cùng gốc, hoa đực mọc ở trên, hoa cái ở dưới. Quả hạch hình trứng. Hạt hơi hình nón cụt, màu nâu nhạt, vị chát.
Bộ phận dùng, thu hái và chế biến: Hạt đã phơi hay sấy khô từ quả cau già (Binh lang – Semen Arecae catechi). Hạt hình trứng hoặc hình cầu dẹt, đáy phẳng, ở giữa lõm, đôi khi có một cụm xơ (cuống noãn). Mặt ngoài màu nâu vàng nhạt hoặc màu nâu đỏ nhạt với những nếp nhăn hình mạng lưới, cắt ngang thấy vỏ hạt ăn sâu vào nội nhũ tạo thành những nếp màu nâu xen kẽ với màu trắng nhạt. Phôi nhỏ nằm ở đáy hạt. Vị chát và hơi đắng.
Vỏ quả đã bỏ vỏ ngoài (lớp vỏ màu xanh) phơi hay sấy khô (Đại phúc bì, đại phúc mao – Pericarpium Arecae catechi)
Thành phần hóa học: Hạt chứa 10-15% dầu béo, 50-60% tannin, 0,3-0,5% alkaloid (arecolin, arecaidin, guvacin, guvacolin).
Công dụng và cách dùng: Hạt cau và hoạt chất arecolin dùng trị bệnh giun sán cho gia súc và gia cầm.
Đối với người, hạt cau phối hợp với hạt bí ngô dùng trị sán.
Đại phúc bì chữa khí trệ, phù toàn thân, bụng đầy trướng, đại tiện không thông, tiểu tiện khó.